This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.This theme is Bloggerized by Lasantha Bandara - Premiumbloggertemplates.com.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm nhận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cảm nhận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 7, 2012

Hào hứng ngao du khám phá Cồn Qui

Khám phá sông nước - miệt vườn vẫn là đề tài mà nhóm chúng tôi đưa vào tầm ngắm hàng đầu trong hè này. Miền Tây vẫn là nơi thích hợp nhất để chúng tôi chọn làm điểm đến. Nhưng đến Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre hay Vĩnh Long, Trà Vinh..., đó là điều mà cả bọn đều phân vân. Nhưng có lẽ vì cùng chung ý nghĩ, chung sở thích, nên  cả bọn thống nhất chọn xứ dừa Bến Tre.

Chuyến đi này bọn tôi tạm đặt là chuyến "ngao du bụi", nhật ký chuyến đi bắt đầu ghi lúc chúng tôi rời thành phố Hồ Chí Minh từ 8 giờ sáng và khoảng 9 giờ 40 đến cầu Rạch Miễu. Chúng tôi được biết cầu Rạch Miễu đi vào lịch sử nối đôi bờ Tiền Giang - Bến Tre. Có thể nói đây là dấu ấn, là bước ngoặc, ghi dấu cho nhiều sự phát triển mới trên ba dải cù lao xứ dừa. Cầu Rạch Miễu được xây dựng khá qui mô và đẹp quá!

Qua cầu Rạch Miễu các bạn Bến Tre đón chúng tôi đưa xuống du thuyền để đi đến Cồn Qui. Bắt đầu chuyến hành trình lênh đênh thưởng ngoạn trên sông Tiền, được thư thả hít thở không khí sông nước trong lành thật sảng khoái. Ven sông chúng tôi quan sát thấy toàn là những hàng bần và những rặng dừa nước xanh um. Du thuyền lướt qua Cồn Phụng, là điểm du lịch hấp dẫn được nhiều người biết đến và đã nổi tiếng từ lâu.

Các bạn Bến Tre đã giới thiệu cho chúng tôi biết: Cồn Qui là cồn nhỏ nhất của Bến Tre, được khai thác từ những năm thập kỷ 1960 nằm trên sông Tiền giữa hai xã Tân Thạch và Quới Sơn, thuộc huyện Châu Thành - Bến Tre. Tư liệu lịch sử ghi lại những người dân đầu tiên đến đây khai hoang đã trồng rất nhiều bần và dừa nước để giữ đất không bị trôi. Hàng năm, nhờ phù sa bồi đắp nên Cồn Qui ngày càng được mở rộng, ngày càng có nhiều hộ dân đến đây sinh sống và khai thác đất trồng hoa màu và các loại cây ăn trái có tiếng như: nhãn, sapôchê, bưởi, mận, xoài, mít tố nữ và còn một số cây ăn trái khác...

Đến Cồn Qui chúng tôi được bạn sắp xếp ở tại điểm nhà của một hộ nông dân, là căn nhà tường khá tươm tất và rộng rãi, xung quanh là vườn cây nhãn, sapôchê đã trồng lâu năm, cách trồng thẳng lối trông rất đẹp. Nơi đây còn  là điểm du lịch sinh thái, là điểm của các hãng lữ hành tại thành phố Hồ Chí Minh hàng ngày đưa khách du lịch thập phương đến đây du lịch. Có lẽ vậy, mà nơi đây được trang trí rất bắt mắt. Hàng ngày, điểm này có từ 100 - 150 khách theo tour từ thành phố Hồ Chí Minh đến đây, cao điểm có ngày cả ngàn khách và có rất nhiều khách nước ngoài. Thỉnh thoảng có vài chục đến 100 khách nội địa và cả khách Tây tá túc qua đêm ở đây. Chắc cũng như chúng tôi, những du khách tìm đến đây ngoài mục đích đi du lịch, thì cũng là thích phiêu lưu, mạo hiểm hay khám phá những gì mà họ thích…

Thích thú nhất hiện nay Cồn Qui vẫn còn giữ nét hoang sơ, có nhiều vườn cây ăn trái lâu năm, được trồng theo hàng, theo lối, nên nhìn những vườn cây rất thông thoáng, đẹp mắt. Dưới những tán cây, chủ vườn mắc nhiều chiếc võng để du khách nằm thư giãn, nghỉ mệt, nghỉ mát. Thấp thoáng xen lẫn trong những vườn cây nặng trĩu trái là những mái nhà lá đơn sơ rất dễ thương. Hay khi ngắm nhìn ven sông, rạch chúng tôi bắt gặp những bông bần trắng tím là đà trên mặt nước, đung đưa trong gió, cùng với những rặng dừa nước xanh um chạy dọc triền sông nhìn hút cả mắt. Thỉnh thoảng những làn gió nhè nhẹ thổi qua, làm những tàu lá dừa nước khua rào rạt; rồi những tia nắng xuyên qua kẻ lá của những đám bần, những hàng dừa nước, tạo hình in bóng trên mặt nước sông, rạch, những con sóng nhỏ nhấp nhô, sóng sánh mặt nước, làm nó lung linh lã lơi trên sóng nước, nhìn nó ta thấy ta cảm giác sự yên lành, dịu hiền rất khó tả và thú vị vô cùng.

Hứng thú nhất là chúng tôi được hóa thân thành nông dân tham gia hái trái cây tại vườn với chủ nhà, hay thu hoạch những mớ rau vườn để bổ sung thêm vào bữa ăn chiều. Hào hứng với cả bọn là được sống với những phút giây "chân lắm tay bùn" để tát mương bắt cá trong mương vườn. Những cá, tôm, tép bắt được, chúng tôi cùng với chủ nhà chế biến ra những món ăn mang đậm hương vị đồng quê và dân dã mà chúng tôi thích. Thật đầy ý nghĩa và khó quên, trong cuộc vui cùng bè bạn thưởng thức những sản phẩm do chúng tôi góp phần làm ra trong chuyến ngao du ở xứ cồn.

Đêm xuống một chiếc được đò máy nhỏ đưa chúng tôi len lỏi bên những rặng bần để ngắm và bắt đom đóm. Mỗi đứa chuẩn bị một lọ thủy tinh nhỏ và những cái vợt bằng lưới để bắt đóm đóm. Từ nhỏ đến lớn chúng tôi chỉ nghe nói về đom đóm, nhưng chưa bao giờ nhìn thấy chúng. Bây giờ được tận mắt chứng kiến, thì khoái chí vô cùng. Trong màn đêm và không gian tĩnh mịch, ánh sáng của bầy đom đóm trên những nhánh bần, màu xanh của lá, trời tối của màn đêm, cả bọn lẳng lặng để thích thú cảm nhận về những hình ảnh ngộ nghĩnh này.

Thỉnh thoảng bởi tiếng đọng của gió hay là quy luật tự nhiên gì đó, mà những con đom đóm le lói ánh sáng cứ di chuyển bay đi, bay lại, rồi đáp vào những nhánh bần, phát ra tia sáng loe lóe, càng nhìn càng thấy lạ mắt và thích vô cùng. Chúng tôi đứa cầm vợt, đứa cầm lọ thủy tinh, bắt từng con đom đóm bỏ vào chai. Vì chưa có kinh nghiệm nên không dễ gì bắt được nhiều đom đóm. Chúng tôi đem các chai lọ chứa những con đóm đóm về chỗ ở, rồi cả nhóm tụ tập dưới những tán cây quanh nhà; tập trung các chai có ánh sáng đom đóm lại và bắt đầu say sưa hát với cây đàn ghi ta mà chúng tôi mang theo.

Điều mà chúng tôi không thể nào quên được là tại Cồn Qui người dân rất nhiệt tình, đôn hậu, mến khách. Khi chúng tôi tổ chức hát hò cũng có sự tham gia của các bạn thanh niên của địa phương và ngay cả chủ nhà họ cũng tham gia hát đôi ba câu vọng cổ hay một vài bài bản nhỏ cải lương rất hay, rất điệu nghệ. Chúng tôi bất ngờ quá, khâm phục họ vô cùng, ban ngày thì họ làm vườn, phục vụ du khách, ban đêm họ cùng tham gia hát dân dã với chúng tôi.

Cả bọn chúng tôi đều thích thú không khí cả ngày, đêm ở đấy rất dễ chịu. Ban ngày khi khám phá hay vui chơi xong, chúng tôi đu đưa nằm nghỉ trên những chiếc võng đã được mắc sẵn duới những gốc cây. Chúng tôi còn khám phá việc nuôi ong lấy mật từ hoa nhãn, sản phẩm này được cũng trưng bày bán tại chỗ cho du khách và còn bán sang các tỉnh lân cận. Cả nhóm còn tham gia làm kẹo dừa, tráng bánh truyền thống, làm một vài công đoạn hàng thủ công mỹ nghệ từ dừa. Các mặt hàng thủ công mỹ nghệ được bày bán ở đây rất đa dạng, nhiều chủng loại từ những đồ gia dụng đến trang trí…, tất cả đều làm bằng chất liệu dừa, để phục vụ nhu cầu khách du lịch.

Không có thời gian để hòa vào cùng các đoàn khách, nhưng chúng tôi cũng tìm hiểu và dõi theo những chiếc xuồng chèo của các cô thôn nữ mặc áo bà ba chở du khách khám phá sông, rạch của xứ cồn. Hay tại các điểm du lịch, tạm gọi là “nhà hàng” phục vụ ẩm thực ở Cồn Qui, chúng tôi thấy đa số là nhà thủy tạ làm như kiểu các gian nhà sàn rộng rãi, chất liệu bằng tre, lá là chính, nhưng đầy đủ tiện nghi và với những món ăn đặc sản, dân dã, khá hấp dẫn như: Cá bông lau, cá ngát nấu canh chua bần với rau muống đồng, bông súng, rau cải trời hay bông so đũa; cá điêu hồng hấp nấm mối với đọt bí hay bông bí; cá rô, cá kèo, cá lóc, cá trê, cá lòng tong kho tộ hoặc nồi đất hay tép rang dừa. 

Ngoài việc thưởng thức các món ăn, tại các gian nhà sàn gió thổi lồng lọng, sảng khoái vô cùng. Từ các gian nhà sàn hướng nhìn ra sông, rạch, sẽ bắt gặp thủy triều lên, xuống hay thư thái ngắm nhìn những hàng bần, những rặng dừa nước, những đám lục bình thả mình trôi theo dòng nước. Thỉnh thoảng  những tàu, thuyền qua lại, tạo nên những đợt sóng mạnh, làm những đám lục bình nho nhỏ nhấp nhô theo sóng dạt vào bờ, rồi nép mình dưới những gốc bần, núm níu hòa nhập vào đám lục bình đã cư ngụ từ trước. Nhìn những đám lục bình đã cư ngụ lâu cho ra những bông lục bình tím ngát rất xinh, nhìn nó chúng tôi thấy lòng mình thanh thản vô cùng.

Trọn vẹn 2 ngày, một đêm chúng tôi cư trú trên đất cồn, tuy chưa có nhiều thời gian để khám phá và diễn tả hết những gì mình yêu thích. Nhưng có lẽ chúng tôi đồng cảm nhận: Cồn Qui – Bến Tre là điểm đến du lịch sinh thái – sông nước – miệt vườn hấp dẫn, bởi nơi đây còn hoang sơ, không khí trong lành, thoáng mát với những vườn cây ăn trái oằn sai trĩu quả và bởi các món ăn dân dã rất hợp khẩu vị…. Và ấn tượng nhất là sự chu đáo, mến khách, sự đôn hậu, chất phác, hiền hành của những bạn Bến Tre, nhất là người dân xứ cồn. Chúng tôi thật sự ngỡ ngàng, hài lòng, thích thú cảnh đẹp trữ tình ở đây, những điểm du lịch nép mình trong những bờ sông, rạch bát ngát màu xanh của vùng sông nước xứ cồn. Chúng tôi cũng sẽ nhớ nhiều nhất là được ngắm đom đóm về đêm, những ánh sáng phát ra tự nhiên của nó trong đêm tĩnh mịch rất độc đáo mà không dễ nơi nào có được. Hay chúng tôi cũng đã lắng lòng lại để thưởng thức trọn vẹn những âm thanh ra rả của các loại côn trùng và tưởng tượng như mình được nghe những thanh âm đồng điệu hòa tấu của một khúc nhạc đồng quê.

Chúng tôi được biết, hiện Cồn Qui có cơ sở lưu trú qua đêm (còn gọi là khách sạn nổi) được thiết trên những bè nổi nằm trên sông Tiền, đoạn sông thuộc xã Quới Sơn – Châu Thành – Bến Tre. Điểm nghỉ này được đầu tư đầy đủ tiện nghi như khách sạn trên bờ. Nghỉ tại đây ban đêm du khách sẽ có thú vui câu cá, nghe đàn ca tài tử và sẽ bắt gặp cư dân khai thác đánh bắt tôm, cá tự nhiên về đêm trên sông Tiền.

Tạm biệt nhé Cồn Qui! Những gì khám phá trải nghiệm ở nơi này tất cả chúng tôi sẽ luôn nhớ mãi và xem nó như một trong những hành trang, để làm phong phú thêm cho cuộc sống. Những gì chưa khám phá được, chúng tôi hẹn một ngày không xa sẽ trở lại tìm hiểu những điều mới mẽ hơn, độc đáo hơn và thú vị hơn trên đất Cồn Qui.

Trúc Duyên

Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012

Say sưa thưởng thức thanh âm cung bậc từ bộ nhạc cụ bằng chất liệu dừa

Vinh dự được về quê hương thưởng thức trọn vẹn chương trình nghệ thuật sân khấu tại Lễ khai mạc “Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012” với chủ đề “Bến Tre trên đường hội nhập và phát triển” tổ chức tại sân khấu nổi Hồ Trúc Giang vào đêm 05/4/2012. Trong hệ thống các tiết mục nghệ thuật được kết nối diễn ra trong chương trình, tôi thật bất ngờ và vô cùng xúc động, thú vị khi được thưởng thức trọn vẹn tiết mục hòa tấu được phối âm, phối khí và phát triển dựa trên âm hưởng các bài bản đờn ca tài tử của vùng đất Nam bộ  mang tên "Bình minh trên đảo dừa". Tiết mục biểu diễn được dàn dựng có nhạc trưởng chỉ huy và 20 nghệ nhân thứ thiệt của xứ dừa Bến Tre tham gia hòa tấu.

Hiếu kỳ muốn biết rõ vì sao có bộ nhạc cụ dân tộc làm bằng dừa này ra đời? Ngay tối đó tôi gặp người trong Ban Tổ chức và được biết: “Họa sĩ, nhạc sĩ Lê Dân” là người Bến Tre đã đưa ra ý tưởng làm bộ nhạc cụ bằng dừa. Thì ra là họa sĩ Lê Dân, không phải ai xa lạ, là người cùng quê Giồng Trôm với tôi. Tôi biết sở trường của Lê Dân là họa sĩ nhiều hơn là nhạc sĩ.

Tuy không phải là người trực tiếp làm nghệ thuật, nhưng tôi rất mê nghệ thuật, ít nhiều cũng am hiểu về một số loại nhạc cụ dân tộc. Trên 25 loại nhạc cụ dân tộc mà tôi tận mắt chứng kiến do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang quản lý, tôi ngạc nhiên quá, các loại nhạc cụ đều được làm hoàn toàn gỗ dừa, gáo dừa của xứ Bến Tre. Ngắm nhìn, chiêm ngưỡng nó thật kỹ, đường nét rất sắc, càng nhìn càng bị thu hút, ấn tượng vô cùng, mê nhất là cấu tạo tự nhiên của chất sừng với những vân gỗ dừa có màu tựa như màu cánh gián rất đẹp. Những sản phẩm làm bằng gáo dừa già thì cũng có vài vân trắng ngà xen lẫn trong toàn khối màu hơi mun, bóng mịn, làm nên những chiếc đàn gáo rất tuyệt, nhất là chiếc đàn gáo hồ lô. Tôi đếm thử thì thấy bộ nhạc khí kéo cung vĩ gồm: Đàn cò có 03 cây, đàn gáo có 04 cây. Hay bộ nhạc khí gãy dây gồm có 04 loại như: Đàn kìm (nguyệt cầm) có 02 cây, đàn bầu (độc huyền) 03 cây, đàn sến 02 cây, đàn tranh 02 cây. Bộ nhạc khí gõ gồm: Trống 03 cái (02 trống chiến, 01 trống tiều), mõ có 02 cái. Ngoài ra, còn có thêm kèn, đàn guitar điện phím lõm (còn gọi là khuyết nguyệt cầm), đàn bass và bộ gõ bằng gáo dừa màu mun. Thuận tay tôi thử âm thanh thật của một vài loại nhạc cụ để nghe nó đã như thế nào. Vì trên sân khấu biểu diễn nó được sự hỗ trợ của âm thanh chuyên nghiệp, nghe thì rất đã, còn âm thanh thật thì phải thử mới biết nó ra sao. Quả là thanh âm không lạc, kêu rất vang với tôi như vậy là đạt yêu cầu rồi.

Hôm sau, tôi tìm gặp họa sĩ Lê Dân, anh lớn hơn tôi 02 tuổi, hơn 05 năm tôi chưa gặp lại anh, gặp lại lần này râu – tóc anh gần như đã bạc trắng hết. Nhưng trong anh vẫn luôn còn giữ nét tếu tếu, hài hài như ngày nào. Anh say sưa kể tôi mới biết bộ nhạc cụ dân tộc được anh có ý tưởng làm đã lâu, cuối năm 2009 anh mới tiết lộ với các đồng nghiệp của anh và được anh em đồng nghiệp ủng hộ, khuyến khích nên thực hiện để kịp phục vụ trong Lễ hội Dừa năm 2010. Nhưng mãi đến tháng 8/2011 được sự hỗ trợ của Ban Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, đặc biệt là đ/c Trần Ngọc Tam – Giám đốc Sở đã tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện được ý tưởng của mình và sẽ được trình làng vào dịp diễn ra "Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012". Họa sĩ Lê Dân còn tâm sự: "Có lẽ hương vị dừa quê hương đã thắm vào máu thịt của tôi, nên bức tranh vẽ nào của tôi cũng đều có dừa, hay trong sáng tác âm nhạc ít, nhiều gì tôi cũng nhớ đến dừa". Vì vậy mà ý tưởng làm bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa cứ ấp ủ và luôn đeo mãi thôi thúc trong tôi. Anh nói, để làm ra bộ nhạc cụ này kỳ công lắm, tất cả đều được làm cây dừa của xứ mình và đã có trên trăm năm tuổi đấy.

Nghe Lê Dân tâm sự, tôi chợt nhớ ra anh hay chọn thơ có đề cập về dừa để phổ nhạc như bài hát “Gửi Mẹ Lương Hòa” lời thơ Chim Trắng trong thơ có câu “…, bông dừa rơi lưa thưa, ong ruồi xây tổ mật…” hay bài hát “Mùa xuân thơm ngát hoa anh hùng” anh sáng tác cùng với Hoài Hồ cũng có câu  “Ơi! Đêm nay trên đường hành quân nghe rừng dừa xanh vang lên khúc hát… hay Ơi! Đêm nay ta cùng dừa xanh ra trận ….”.  Hoặc bài hát “Tiếng hát trên dòng Hàm Luông” do anh sáng tác lời nhạc cũng có câu “…Đây hàng dừa xanh soi bóng quê hương dạt dào bao tình mến thương…” và bài hát “Người Mẹ bên bến Hàm Luông” cũng có câu hát “…Bến sông còn in dáng Mẹ như cây dừa đứng hiên ngang”.

Được biết người cùng họa sĩ Lê Dân thực hiện bộ nhạc cụ dân tộc bằng dừa còn có ông Võ Văn Bá (còn gọi Ba Sơn). Ông Bá cũng là người con xứ dừa Bến Tre, là người có khiếu, là nhạc công chuyên sử dụng nhạc cụ truyền thống và có vài chục năm kinh nghiệm để chế tác ra các loại nhạc cụ dân tộc. Tôi thì chưa gặp ông Bá lần nào, nhưng tìm hiểu thì được biết sản phẩm này ra đời có sự đóng góp rất lớn của ông Bá. Có thể gọi cho vui, hai cụ ông với hai mái tóc đã bạc trắng gần hết cùng hứng thú, say mê như nhau, rồi bắt tay thiết kế ra bộ nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa, để ra mắt trong "Festival Dừa Bến Tre lần III" thì quả là táo bạo. Bởi vì, đây là lần đầu tiên hai ông bạn già chế tác các loại nhạc cụ dân tộc bằng chất liệu dừa, mà cũng chưa hình dung được thanh âm của nó ra sao. Trong quá trình thực hiện có một số nhạc cụ chưa đạt tiêu chuẩn thanh âm, cung, bậc, hai ông phải nhờ vào bộ khuếch âm điện tử hỗ trợ. Hoặc có một số nhạc cụ cũng chưa đạt độ tinh xảo, tính thẩm mỹ còn thấp, hai bạn ông già phải làm đi làm lại nhiều lần mới đạt được. Mỗi loại nhạc cụ hai ông chế tác ra có kích cỡ khác nhau, để tạo nên những cung bậc thanh âm khác nhau, mà khi các nhạc cụ đó được gãy lên nó sẽ hòa quyện thanh âm,  nghe rất sướng tai. Với tôi, hai ông bạn già của xứ dừa Bến Tre cừ thật, tài thật, đáng khâm phục.

Tôi được thưởng thức trọn vẹn những tiếng đàn dừa ngân vang hòa âm điệu trong đêm khai mạc "Festival Dừa lần III" tại quê hương mình thật là vinh hạnh, sướng thật, nó sẽ đọng mãi trong tôi. Và tôi nghĩ ít, nhiều nó cũng đã góp phần làm nên thông điệp nâng cao chuỗi giá trị thực của cây dừa Bến Tre.

Như vây, bộ nhạc cụ dân tộc truyền thống bằng chất liệu dừa đã chính thức ra mắt công chúng Bến Tre và cả nước, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục “Bộ nhạc cụ dân tộc chế tác bằng chất liệu dừa đầu tiên tại Việt Nam” vào ngày 10/4/2012.

Bạn ơi! Hãy đến quê hương tôi thư thả ngắm nhìn những hàng dừa với dáng đứng nghiêng nghiêng, nhiều rặng dừa ven sông đong đưa theo nhịp sóng, những con đường làng rợp bóng dừa xanh…. Hay tìm hiểu thêm những chiến công hiển hách của xứ dừa năm xưa, cũng có sự góp mặt của cây dừa. Trong xây dựng phát triển quê hương dừa đã góp phần rất lớn trong giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đóng góp vào ngân sách của tỉnh nhà…. Cây dừa, nó có nhiều lợi ích, nhiều công dụng lắm các bạn ơi! Dừa quê tôi là thế đó, nó đã làm nên “Dáng đứng Bến Tre” bất hủ. Hãy cùng sẻ chia sự thăng trầm chịu đắng cay của nó trên đất Bến Tre. Với tôi, dừa quê hương tôi nó vẫn luôn ươm mầm cho cuộc sống, đem lại sự ngọt mát ân tình cho mọi người, sự dâng trái sai, trái ngọt, góp phần cho đời thêm vui.

Đức Hà

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2012

Tuổi thơ "Bé bánh dừa" xứ Giồng Luông

Bây giờ tôi đã lớn, lập nghiệp ở đất khách quê người, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ về quê nhà, nhớ nhất là những rặng dừa, vườn dừa xanh bóng mát và những con đường làng  dừa ở quê tôi xứ Bến Tre. Dừa đã gắn bó mật thiết với người dân xứ tôi từ trong kháng chiến đến xây dựng quê hương. Từ dừa người ta đã sáng tạo, chế biến ra các sản phẩm trong thực phẩm, các sản phẩm dùng trong công nghiệp, trong thủ công mỹ nghệ, trong lịch sử - văn hóa, trong các lễ hội, trong văn hóa ẩm thực, du lịch sinh thái….Và từ cây dừa mà giới văn nghệ sĩ đã dùng hình tượng của nó để sáng tác trong thơ ca, nhạc, hội họa,….

Tôi có nhiều kỷ niệm về dừa quê tôi, nhớ nhiều nhất là các món ăn có chất liệu, nguyên liệu, hương liệu, hương vị của dừa. Nhưng có lẽ cái tôi nhớ nhất, ghiền nhất và nhớ thật nhiều nhất và nó luôn đọng mãi trong tôi cho đến bây giờ, đó là chiếc “bánh dừa” ở quê Nội - xứ Giồng Luông thuộc xã  Đại Điền – huyện Thạnh Phú – tỉnh Bến Tre.

Cứ mỗi lần nghe tiếng ê a đánh vần của những đứa trẻ, làm gợi nhớ đến tuổi học trò của tôi ở một làng quê của xứ Bến Tre. Cái tuổi mà chưa biết lo, chưa biết nghĩ, cái tuổi mà chạy reo vang, mùng húm mỗi khi được mẹ cho quà, nhất là món quà mình thích nhất. Với tôi, chỉ cần mỗi khi đi chợ về Mẹ cho ăn 01 cái bánh dừa là tôi mê tít lắm rồi. Không hiểu sao tôi mê cái bánh dừa của vùng quê tôi đến thế, mỗi khi nhận được cái bánh dừa là tôi nhanh tay gỡ thật nhanh vòng lá quấn bên ngoài bánh, cắn nhanh một miếng cho đã thèm. Cái vị ngọt của bánh, dẻo dẻo của nếp, thơm ngào ngạt của nhân chuối chín bên trong, với những hạt đậu đen cưng cứng, bùi bùi, với vị nước cốt dừa béo béo, thơm thơm, tất cả hòa hợp vào nhau mà khi không dùng đến nó tôi vẫn tưởng tượng ra được cái hương vị béo, ngon, thơm của nó đọng lại mãi trong tôi. Vì thích ăn bánh dừa và hình như ngày nào tôi cũng ăn ít nhất một cái, nên cả nhà ai cũng gọi tôi là “Bé bánh dừa”, gọi tôi như vậy tôi không chịu đâu. Lúc đầu tôi khóc dữ lắm, Anh tôi cứ trêu đừng ăn bánh dừa nữa thì Anh không gọi là “Bé bánh dừa”. Nhưng dễ gì tôi chịu bỏ ăn bánh dừa, nghe gọi riết rồi cũng quen và cho đến khi tôi khăn gói rời quê nhà vào môi trường của sinh viên thì tên “Bé bánh dừa” mới ít được gọi đến.

Cái hình ảnh cái “bánh dừa” quê tôi ăn tới đâu tháo những vòng lá dài buông xuống, rồi nó xoắn lại như cái lò xo, trông ngộ nghỉnh, mà đến giờ tôi vẫn chưa thấy có cái bánh nào khác làm với loại lá như vậy. Tôi nhớ rất rõ, mình cũng háo ăn, có những lúc ăn vội để vào lớp học, mới cắn một cái, sơ ý để phần còn lại tuột xuống đất, tôi cứ đứng nhìn nó rồi tiếc mãi. Hay có hôm ăn hấp tấp vội vàng, trên mép còn dính một hạt nếp, bị chúng bạn chê cười, tôi xấu hổ biết bao, những hình ảnh ấy sẽ không bao giờ quay lại trong tôi nữa, vậy mà tôi vẫn luôn nhớ và ghiền nó vô cùng.

Cũng chỉ vì tôi thích ăn bánh dừa, mà hàng ngày Má tôi phải dành vài giờ đồng hồ sang nhà Bà Tư hàng xóm phụ làm bánh, rồi được Bà Tư cho vài cái bánh để tôi ăn. Năm học cấp II,  đi học về làm bài xong là tôi vọt sang nhà Bà Tư coi làm bánh. Xứ tôi có nhiều nhà làm bánh dừa, người ta bắt đầu làm từ chiều đến tối, rồi thức nấu bánh đến khuya hay gần sáng mới xong. Khi đem bánh dừa ra chợ bán, bánh vẫn còn hơi nóng. Riêng nhà Bà Tư là làm bánh vào ban ngày, đến khoảng 08 - 09 giờ đêm là hoàn thành việc nấu bánh, cũng nhờ vậy mà tôi mới có thể sang nhà Bà Tư phụ làm bánh được. Ban đầu tôi phụ sắp những cọng lá dừa nước non ôm vào nhà, rồi phụ trỉa lá, dần dần tôi phụ quấn nòng, cột bánh…., rồi phụ đổ nếp vào nòng, đến buộc dây, cột chùm bánh lại thành một chục (12 cái)…. Những ngày đầu mới phụ, khi bánh chín Bà Tư mang sang cho nhà tôi nửa chục (06 cái). Tôi phụ khoảng 02 – 03 tháng gì đó, có hôm Bà Tư cho bánh lại cho tôi cả tiền, tôi từ chối không nhận tiền và nói Bà cho bánh dừa con ăn là được rồi. Nhưng Bà bảo tôi lấy đi để mua tập vở học, con mà không lấy Bà giận không cho qua nhà làm nữa đâu. Sợ Bà Tư giận thiệt nên tôi đành nhận số tiền ấy. Tuy số tiền không lớn, nhưng trong lòng tôi mừng vô cùng, nhưng mừng nhất là được nhận chiếc bánh dừa mà mình thích ăn nhất. Ăn riết rồi cũng ngán, nhưng ngưng ăn chừng hai hôm là tôi lại thèm nó. Sau này Bà Tư cũng cho bánh nhà tôi cũng ít dần, bù lại số tiền bà trả công cho tôi cao hơn, tôi để dành mua bút, tập và những dụng cụ cần thiết cho việc học của tôi.

Phụ Bà Tư được hơn nữa năm, tôi gần như trở thành thợ quấn nòng làm bánh, cột bánh chuyên nghiệp, lúc đó bánh dừa nhà Bà Tư bán đắc lắm, làm số lượng ngày càng nhiều, bán sang nhiều chợ ở quê, ra đến chợ huyện, lên đến chợ tỉnh…. Đến năm học cấp III, bài vở học nhiều hơn, nhưng hàng ngày tôi vẫn sang nhà Bà Tư phụ làm bánh. Năm học cuối cấp, mỗi tuần tôi chỉ sang nhà Bà Tư phụ đôi ba lần, hôm nào không sang được trong lòng tôi thấy buồn buồn sao ấy.

Thời gian tôi phụ làm bánh ở nhà Bà Tư, thấy tôi siêng năng, ý tứ trong từng việc làm, ham học hỏi, vì vậy mà ngày tôi khăn gói lên đất sài thành làm sĩ tử, tôi nhớ rất rõ, khuya tôi đi Bà Tư mang sang nhà dúi vào tay tôi một ít tiền và cho tôi hai chùm bánh dừa để dành ăn trong những ngày tôi tạm xa nhà. Ngoài người thân động viên tôi cố gắng học hành thi cử, thì Bà Tư là người đã động viên tôi về tinh thần và hỗ trợ tôi một ít vật chất, để tôi thành đạt trong việc học hành. Thấy tôi chăm học, lại siêng năng, Bà Tư thường hay động viên tôi: "Con ráng học đi, ở xứ mình còn nhiều khó khăn lắm, cũng vì do học ít và học không đến nơi đến chốn, không làm được gì đâu, con ráng học để kiếm cho mình cái nghề khác, đừng như Bà đây làm nghề này thức khuya dậy sớm cực lắm con ạ!". Lúc đó, tôi cười rồi nói: "Bà Tư ơi! Con thấy nhà Bà làm bánh ngon quá, bán được nhiều tiền, nếu cực thế này con cũng chịu". Nói là nói vậy, chứ gia đình tôi ai cũng động viên tôi phải học, rồi kiếm cho mình cái nghề để nuôi bản thân mình và còn có thể giúp cho gia đình, cũng vì học ít mà trong tính toán làm ăn gia đình tôi đã gặp không ít khó khăn. Vả lại, tôi rất mê học, ước mơ của tôi được khoác chiếc áo blu trắng hay được làm nghề gõ đầu trẻ. Vì vậy, dù thích ăn bánh dừa, thích nghề của Bà Tư đang làm, hàng ngày sang phụ nhà Bà, nhưng tôi chưa bao giờ lơi là trong việc học.

Rồi đến lúc phải rời xa quê nhà thật sự, tôi có kết quả đậu vào một Trường Đại học, tuy không phải là vào ngành nghề mình từng mơ ước, nhưng đậu vào Đại học thời đó ở xứ tôi không dễ gì kiếm được. Với tôi, gia đình tôi như vậy thì quá vinh dự rồi.

Bắt đầu hòa nhập vào môi trường mới ở đất sài thành, môi trường của những cô, cậu sinh viên tứ xứ hội tụ về. Ngày tôi chuẩn bị chính thức rời quê lên đường đi học, tôi "Bé bánh dừa" sang nhà từ giã Bà Tư, Bà vui mừng như người thân của tôi vậy. Ngày tôi đi Bà Tư sang nhà đưa 05 chùm bánh dừa để tôi xách đi, Bà nói con ráng mang bánh theo ăn và cho các bạn cùng ăn, rồi con giới thiệu bánh dừa của Bà Tư luôn. Tôi biết vừa xách hành lý, những đồ dùng cần thiết ban đầu cho “Bé bánh dừa”nhà quê như tôi lên thành phố với cả 05 chùm bánh dừa nữa thì không dễ dàng. Vì thương tấm lòng tốt của Bà Tư, vì thích ăn bánh dừa, được người thân hỗ trợ đưa đi, nên những gì chuẩn bị tôi đều cố mang đi tất cả.

Nhờ những chiếc bánh dừa của Bà Tư mà lúc đầu tôi đỡ nhớ nhà. Tôi cứ trông đến ngày được nghỉ về quê gặp người thân, sang nhà Bà Tư phụ làm bánh và ăn bánh dừa cho đã thèm luôn. Dần dần, do việc học hành, rồi quen bạn mới ở khắp nơi, tôi ít nhớ nhà hơn. Mỗi lần về quê tôi đều sang nhà thăm Bà Tư, phụ Bà làm bánh và mua vài chùm bánh dừa đem đi cho các bạn cùng phòng thưởng thức. Lần nào mua bánh của Bà Tư cũng được Bà khuyến mãi riêng tôi nửa chục. Bánh dừa nhà Bà Tư làm ngon lắm, để gần cả 03 – 04 ngày vẫn chưa hề hấn gì và gồm có các loại bánh: Bánh nhân chuối; nhân đậu xanh; bánh chuối trộn với đậu đỏ - đậu đen và dừa bâm nhuyễn; bánh dừa chay; bánh dừa trộn đậu đỏ - đậu đen .
Nhóm bạn cùng phòng với tôi là dân đủ vùng, miền, nó cũng khoái ăn bánh dừa như tôi. Cứ thế mỗi lần về quê là tôi rinh từ 03 – 05 chùm mang lên. Hôm nào nhớ nhà, nhớ đến bánh dừa là tôi kể, tôi khoe với bọn nó là tôi làm bánh dừa cừ lắm. Tôi đã kể cho bọn bạn nghe các nguyên liệu, cũng như cách làm ra thành phẩm chiếc bánh dừa ở quê tôi, mà tôi đã học được của Bà Tư. Tôi nói muốn làm bánh ngon, hấp dẫn, nếp làm bánh phải là nếp rặt, không pha lộn gạo, bánh mới dẻo. Nếp phải được vo sạch, nước không còn đục, vớt nếp ra thúng bằng tre để ráo, sau đó rưới nước từ từ nhiều lần lên nếp để hột nếp mềm. Rồi vắt dừa lấy nước cốt nhất, hòa vào ít đường cát và tí muối, rưới trộn đều vào với nếp. Trước khi làm bánh phải chuẩn bị quấn nòng, dây buộc…. Lá dùng quấn nòng làm bánh dừa là đọt non của cây lá dừa nước, quê tôi gọi cà bắp. Sau đó dùng dao rọc cọng lá và gân lá, lấy phần phiến lá quấn nòng gói bánh. Phần cọng lá dừa nước được chặt nhọn làm gim. Phần gân lá dùng làm dây buộc từng cái bánh. Gói bánh dừa phải là lá dừa nước non kết hợp với cái béo của dừa thì bánh mới thơm, ngon hấp dẫn. Hay quê tôi còn dùng lá dừa non để gói bánh dừa, lá dừa gói rất đẹp, nhưng hơi hiếm, vì để lấy lá non phải đốn cây dừa xuống mới có được.
Dừa nước Bến Tre (lá non dùng gói bánh dừa)

Về phần thực hiện gói bánh dừa tôi kể các bạn nghe quy trình gồm: Trước hết phải quấn nòng, dùng phiến lá dừa nước non quấn thành hình khối trụ, rồi cho nếp vào nòng. Tùy theo loại bánh mà ta cho nhân vào; bánh dừa có thể gói nhân đậu xanh hoặc nhân chuối, hay có thể kết hợp với đậu đen, đậu đỏ nguyên hạt trộn vào nếp. Nếu là nhân đậu xanh thì nấu chín, tánh tơi nhuyễn ra, rồi vò viên. Nhân chuối thì tùy vào khẩu vị của mỗi người mà chọn chuối vừa chín tới hay chín mềm. Đối với bánh gói có nhân, khi gói bánh cho một phần nếp vào nòng bánh trước, rồi mới cho nhân vào nằm ở giữa, rồi tiếp tục cho phần nếp còn lại vào vừa đầy nòng; đối với bánh không nhân thì đơn giản, chỉ cần cho nếp vào vừa đầy nòng là được. Bánh có nhân hay không nhân sau khi cho nếp vào nòng thì khép kín nòng lại cố định bằng gim, sau đó cột bánh bằng dây gân lá dọc theo nòng bánh. Như vậy là hoàn thành phần gói bánh. Gói bánh xong cột bánh lại từng chùm một, mỗi chùm một chục (12 cái), rồi đem bánh bỏ tất cả bánh vào nồi hấp lớn hay ở quê tôi còn gọi là cái trả, nước hấp bánh phải bỏ tí xíu phèn chua thì màu lá của bánh mới tươi và đẹp. Bánh bỏ vào hấp phải từ 05 - 06 giờ đồng hồ, bánh mới chín.

Bánh dừa gói đều và đẹp đòi hỏi người quấn nòng phải khéo tay, có thâm niên. Tôi nói với bạn để thưởng thức được chiếc bánh dừa ngon là cả một kỳ công; gói bánh dừa quay quần bên nhau, rồi pha trò cười vui vẻ với nhau sẽ có được nhiều kỉ niệm đẹp. Rất thú vị và không gì ngon bằng được ăn bánh do chính tay mình làm.
Nguyên liệu làm bánh với nhân chuối và nhân đậu xanh

Trên đất Sài Gòn, tôi cũng thấy nhiều nơi bán bánh giờ để thương hiệu “Bánh  dừa Giồng Luông – Bến Tre” hay “Bánh  dừa Bến Tre”, tôi cũng không biết là bánh dừa đó có thật sự chính hiệu chưa, đoạn đường bán nhiều nhất là trên Đại lộ Nguyễn Văn Linh. Mỗi lần nhìn thấy người ta bày bán bánh dừa là tôi thấy nhớ quê hương da diết, nhớ về tuổi thơ của mình. Có người hỏi tôi, bánh dừa Giồng Luông có khi nào? Và ai là người đã làm ra nó? Quả thật mà nói người dân quê tôi cũng không ai nhớ rõ nguồn gốc bánh dừa có từ đâu? Chỉ biết người dân quê tôi đã tận tâm thổi hồn vào chiếc bánh dừa từ khâu chuẩn bị đến nguyên liệu làm bánh và đến khi ra thành phẩm chiếc bánh dừa. Vì thế, mà chiếc bánh dừa Giồng Luông nó ngon và nổi tiếng, được nhiều người biết đến là vậy.

Bánh dừa Giồng Luông đã trở thành đặc sản của xứ dừa Bến Tre, nó góp phần làm phong phú thêm giá trị văn hóa và sắc màu ẩm thực Việt Nam nói chung, Bến Tre xứ dừa nói riêng. Bánh dừa không chỉ người dân Bến Tre mới gói bánh ngon, mà ai cũng có thể làm được. Nhưng để nó được ngon, được nổi tiếng thì phải thật sự là người khéo tay, ham học hỏi, tận tâm với nghề và có những bí quyết riêng. Nếu có dịp ghé thăm quê hương xứ dừa hãy đến đó thử một lần nhé! Vừa  thử tài khéo tay vừa tìm về kí ức của “Bé bánh dừa”, sẵn dịp khám phá tìm hiểu “Di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ Huỳnh Phủ (Hương Liêm) và khu mộ, cũng như ghé thăm bia lưu niệm của Tiểu đoàn 307 “đánh đâu được đấy - oai hùng biết mấy” của bộ đội ta trong thời kỳ chống thực dân Pháp.!.

Hoàng Đạt

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

Sản phẩm làm đẹp từ nước dừa xứ Bến Tre

Xứ Bến Tre được trồng rất nhiều dừa, có thể nói dừa ở xứ này được trồng nhiều như rừng. Từ đỉnh cầu Hàm Luông nhìn về tứ phía cù lao Bảo, cù lao Minh sẽ thấy rừng dừa xanh bát ngát, giống như thảm thực vật xanh um khổng lồ, khó nhận ra đâu là những nhà ngôi nhà của cộng đồng dân cư đang sinh sống. Cũng chính vì dừa sinh trưởng và phát triển đa chủng loại trên vùng đất này, mà đi đến đâu ai cũng gọi Bến Tre là xứ của dừa. Và chắc có lẽ vậy, mà người dân xứ dừa luôn tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi, rồi đưa ra những ý tưởng sáng tạo từ nguyên liệu, chất liệu, vật liệu của dừa, để làm ra nhiều sản phẩm có giá trị có ích cho đời.

Nói về công dụng của nước dừa Bến Tre thì không sao diễn tả hết được. Chỉ riêng nước dừa thôi mà người dân xứ dừa đã dùng nó làm nguyên liệu chế biến ra đủ thứ các món ăn, thức uống rất tốt. Và cũng từ nước dừa mà khoảng cuối năm 2011, đã có sản phẩm “mặt nạ từ dừa” ra đời. Vì là phái nữ, phái hay làm đẹp và thích làm đẹp, nhất là chăm sóc sao cho đẹp da mặt của mình. Tôi cũng là người thích đẹp, nên thường mua những sản phẩm mặt nạ làm từ dưa leo, cà chua, nha đam.... để dùng. Cách nay hơn 2 tháng tiện đường ghé shop mỹ phẩm ở Phường 3 để mua mặt nạ đắp da mặt tôi thường dùng, tôi bắt gặp sản phẩm "mặt nạ từ dừa", cầm lên xem kỹ các thông tin, mới biết đây là sản phẩm được làm từ nước dừa của quê hương mình. Mà nước dừa từ trước đến giờ chưa nghe ai nói nó độc cả. Nước dừa được xem là loại nước khoáng thiên nhiên, khi uống sẽ được cung cấp vitamin B và các khoáng chất khác như kali, magiê vào cơ thể con người…. Nếu uống một trái dừa tươi sẽ tiếp thu được khoảng 250ml nước khoáng thực vật. Trong kháng chiến, do thuốc men thiếu thốn, các thầy thuốc của cách mạng đã sáng kiến dùng nước dừa nạo để thay nước biển truyền dịch cho những thương binh mất máu, mất nước kiệt sức; hay nước dừa còn thay nước cất trộn vào thuốc kháng sinh để tiêm rất tốt. Còn trong đông y thì dùng nước dừa kết hợp với một số cây thuốc nam để chữa một số bệnh rất có hiệu quả. Nghĩ đến công dụng của nó như vậy, nên tôi quyết định mua 02 cái "mặt nạ từ dừa" để dùng thử. Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng, khi đắp "mặt nạ từ dừa" lên da mặt, tôi theo dõi và có cảm giác nó hít chặt vào da, mát lạnh, rất thoải mái; khi đắp xong vài ba giờ sau tôi thấy da tôi không có phản ứng gì khác.

Vì chỉ mới dùng lần đầu, nên tôi chưa thể nhận xét được nó khác gì so với các sản phẩm khác tôi đã dùng. Hai ngày sau tôi tiếp tục dùng lần nữa, lần này tôi cảm nhận được "mặt nạ từ dừa" nó giữ cái mát lạnh trên da mặt lâu hơn các sản phẩm mặt nạ khác tôi đã dùng. Mỗi lần đắp mặt nạ xong gỡ ra, tôi rửa mặt lại bằng nước lạnh, khi sờ vào da mặt cảm giác da rất sạch, hơi lành lạnh, mịn màng hơn. Sử dụng được 02 lần tôi vẫn chưa dám tin là nó có hiệu quả như phần công dụng đã ghi trên bao bì: “Làm sạch da, giữ độ ẩm cho da, làm mịn và sáng da”. Có điều tôi công nhận trước tiên là thấy là da tôi không bị phản ứng, tiện lợi là không cần để vào ngăn mát tủ lạnh, nhưng khi dùng vẫn có cảm giác mát mát, lạnh lạnh rất dễ chịu.

Như vậy, cứ hai ngày tôi sử dụng "mặt nạ từ dừa" một lần, dùng hơn 4 tuần, tôi mới dám nói sản phẩm mặt bằng "mặt nạ từ dừa" của Bến Tre rất có hiệu quả, không gây hại cho da. Hiệu quả nhất tôi có thể chia sẻ là làm sạch da, giữ độ ẩm cho da cũng như làm mịn da mặt và sáng da. Bây giờ thì có thể nói tôi rất an tâm, tự tin khi dùng nó. Mỗi lần đắp "mặt nạ từ dừa" xong tôi trang điểm nhẹ thì thấy da rất ăn với mỹ phẩm, sáng hơn và rất mịn màng. Những lúc đi dự tiệc tôi đều đắp "mặt nạ từ  dừa" trước, rồi mới trang điểm, lúc đó nhóm bạn nhìn tôi bảo da mịn màng, tươi sáng hơn trước, các bạn hỏi dùng mỹ phẩm gì, tôi nói cũng là các hiệu mỹ phẩm bình thường như trước thôi. Nhưng trước khi làm đẹp, mình đắp "mặt nạ từ dừa" của Bến Tre mình làm đấy và tôi chỉ các bạn đến hiệu mỹ phẩm Mai Quyên ở phường 3 mua dùng thử.

Thấy dùng "mặt nạ từ dừa" đắp da mặt có hiệu quả, đây lại là sản phẩm mới làm từ nước dừa của quê hương mình, nên tôi không ngần ngại mua 01 hộp (trong đó có 07 cái) gởi tặng ngay cho bạn ở xa. Khi tặng, tôi chỉ nói sản phẩm này không bị phản ứng da, rất mát, bạn dùng thử đi rồi thông tin cho mình biết. Sau khi dùng được 4 cái, bạn tôi thông tin cho tôi biết sản phẩm "mặt nạ từ dừa" của bạn tặng dùng rất tốt. Tôi hỏi bạn cảm nhận thế nào sau khi dùng nó. Bạn tôi không chút do dự trả lời ngay "sạch da, mát lạnh trên da rất lâu, sau khi dùng da rất mịn và sáng hơn" và hỏi tôi muốn mua sản phẩm "mặt nạ từ dừa" mua ở đâu? Lúc đó tôi trả lời mua ở Bến Tre, bạn cần thì mình mua gởi lên cho.

Sau này tìm hiểu, được biết sản phẩm này đang được giới thiệu tại Phòng trưng bày sản phẩm từ dừa của Sở Khoa học – Công nghệ và bán ở một số shop mỹ phẩm ở trung tâm thành phố Bến Tre. Hiện nay thì sản phẩm "mặt nạ từ  dừa" đã có mặt ở các Khách sạn – Nhà hàng, các dịch vụ làm đẹp - chăm sóc da ở Bến Tre. Các điểm du lịch sinh thái ở Bến Tre cũng đã bày bán sản phẩm này và khách du lịch mua dùng rất thích. Mới đây tôi nắm được thông tin tại một số shop mỹ phẩm ở Quận 8 -  thành phố Hồ Chí Minh cũng đã trưng bày bán sản phẩm "mặt nạ từ  dừa" của Bến Tre, tôi đã thông tin cho bạn tôi đến đó tìm mua.

Sản phẩm "mặt nạ từ dừa" dùng để đắp mặt, làm đẹp làn da ra đời trên đất Bến Tre và đang bắt đầu được một số phái nữ ở xứ dừa sử dụng, là do Hợp tác xã Tiểu thủ Công nghiệp Cửu Long ở Phường 8, thành phố Bến Tre dùng nguyên liệu từ nước dừa xứ Bến Tre làm ra. Được biết, đây là đơn vị đã sản xuất, kinh doanh xuất khẩu thạch dừa. Hiện nay sản phẩm chủ lực của đơn vị này là thạch dừa viên, thạch dừa giả mực, thạch dừa sợi và mới đây là “mặt nạ từ dừa”.

Qua tìm hiểu, trên thế giới cũng đã có một số nước sản xuất “mặt nạ từ dừa”, nhưng ở Việt Nam thì đây là lần đầu tiên một Doanh nghiệp của xứ dừa Bến Tre nghiên cứu sản xuất thành công sản phẩm này. Cũng thông tin từ cơ sở sản xuất ra sản phẩm này, tôi được biết để làm ra sản phẩm "mặt nạ từ  dừa" nhóm xã viên của Hợp tác xã TTCN Cửu Long đã mất gần 10 năm để nghiên cứu và cũng đã có không ít lần muốn bỏ cuộc, vì công nghệ này rất mới mẻ. Nhưng sau đó khách hàng các nước như: Đài Loan, Hàn Quốc…, biết Bến Tre là xứ sở của dừa Việt Nam, nên đã đến đây đặt hàng nhiều lần về sản phẩm "mặt nạ từ  dừa". Từ đó nhóm nghiên cứu này quyết mới tâm thực hiện ý tưởng. Sau hàng chục năm trời mày mò và thử nghiệm nhiều lần, Hợp tác xã TTCN Cửu Long đã cho ra đời chiếc mặt nạ được làm từ nguyên liệu nước dừa thứ thiệt của xứ Bến Tre. Sản phẩm “mặt nạ từ dừa” này hoàn toàn được chế biến từ 90% nước dừa tự nhiên của đất Bến Tre và 10% men Acetobacter. Khi làm ra có độ mỏng, dày, trong suốt, là sản phẩm tinh khiết không có hóa chất. Cái khó nhất để cho ra đời sản phẩm "mặt nạ từ  dừa" là làm sao độ mỏng của chiếc mặt nạ chỉ được dày khoảng 1 - 2mm, kế đến là độ trong suốt của sản phẩm…. Sở Y tế Bến Tre cũng đã kiểm nghiệm chứng nhận sản phẩm không gây hại cho da, sức khỏe của con người.

Dừa Bến Tre có nhiều công dụng vậy đó, người dân xứ dừa khẳng định nó là cây có nhiều và rất nhiều lợi ích, son sắt – thủy chung gắn bó với cuộc sống người Bến Tre trong mọi hoàn cảnh. Vì vậy mà mỗi ý tưởng sáng tạo từ dừa hay khi làm nên một sản phẩm đưa ra thị trường dù lớn hay nhỏ, cũng đều góp phần nâng cao giá trị thực của cây dừa trên đất Bến Tre; góp phần làm đa dạng sản phẩm từ dừa, cũng như tôn vinh giá trị toàn diện của cây dừa. Đặc biệt, là góp phần làm phong phú về giá trị văn hóa dừa trên đất Bến Tre. Hiện nay, sản phẩm "mặt nạ từ dừa" Bến Tre cũng đã được gởi chào hàng bên Nhật Bản, nhiều khách hàng Nhật Bản cũng đã hài lòng. Theo tin từ Hợp tác xã TTCN Cửu Long, sắp tới  phía Nhật sẽ đến Việt Nam để xem xét ký kết hợp đồng với đơn vị trong thời gian tới.

Tự hào về những sản phẩm làm ra từ dừa, cũng như nhân dịp Bến Tre tổ chức “Festival Dừa Bến Tre lần III năm 2012” từ ngày 18 giờ ngày 04/4/2012 – 10/4/2012 Hợp tác xã TTCN Cửu Long sẽ tham gia gian hàng giới thiệu sản phẩm về dừa do đơn vị mình sản xuất, trong đó có giới thiệu và bày bán sản phẩm mới “mặt nạ từ dừa” trong khu Hội chợ - triển lãm tại Khu Sao Mai (tại phường 7 – Tp Bến Tre). Nhân dịp này, để kiểm chứng sản phẩm mới làm đẹp cho phái nữ từ nước dừa xứ Bến Tre, mọi người có thể tìm hiểu và hãy tìm mua sản phẩm “mặt nạ từ dừa” về dùng thử sẽ thấy nó rất có hiệu quả, cũng giúp mình như được thư giãn sau những giờ làm việc, lao động. Nếu không tin “phái mày râu” cũng hãy dùng thử cho mình, rồi mua tặng cho chị nhà mình làm đẹp. Tôi chắn chắn sản phẩm “mặt nạ từ dừa” của xứ Bến Tre nó sẽ làm các chị thích thú và nó sẽ thật sự có ý nghĩa vô cùng cho các anh đấy!!!

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2012

Dừa quê tôi gắn bó với cuộc sống

Lịch sử phát triển cây dừa Bến Tre, chưa có tư liệu nào ghi rõ nó từ đâu đến cư ngụ trên vùng đất này và đến tự bao giờ. Chắc có lẽ vậy mà năm 1966 nhà thơ Lê Anh Xuân đã có những vần thơ rất tuyệt trong bài "Dừa ơi":
          ... Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?”
              Nội nói: “Lúc nội còn con gái
              Đã thấy bóng dừa mát rượi trước sân…

Và cho bây đến giờ ở quê tôi:


          ... Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
              Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng
              Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
              Như dân làng bám chặt quê hương…

Đã trải qua biết bao thăng trầm, nhưng cây dừa vẫn luôn son sắt thủy chung, sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng đất Bến Tre. Bởi lẽ vùng đất này đã được thiên nhiên ban tặng phù sa của sông Tiền, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên bồi đắp, tạo nên ba dãy cù lao (cù lao Bảo, Minh và An Hóa), cùng với khí hậu mát mẻ, hệ thống sông ngòi chằng chịt, là nơi lý tưởng cho nhiều giống dừa cư ngụ, thích nghi, phát triển xanh tốt. Có thể nói trong xây dựng quê hương, cây dừa đã trở thành loại cây đặc biệt của tỉnh trong phát triển kinh tế - xã hội, là cây xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, giúp nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người dân Bến Tre. Hình ảnh cây dừa quê tôi cũng đã đi vào sáng tác nghệ thuật, minh chứng bài hát “Dáng đứng Bến Tre” đã đi vào lòng người cả nước, hay những vần thơ, bài thơ, bài hát, những câu ca dao, những tác phẩm hội họa, văn học - nghệ thuật…, cũng đã ngợi ca rất nhiều, rất hay, rất đẹp, rất xuất sắc về cây dừa quê tôi.

Nhớ về dừa là tôi nhớ ngay đến nhà Ngoại tôi ở một vùng quê thuộc cù lao Bảo, chỉ tính trong một xóm ấp thôi mà nhà nào cũng trồng toàn là những hàng dừa, bờ dừa xanh phủ đầy bóng mát. Tôi nhớ rất rõ, trước nhà Ngoại là một con sông, bên hông là những rặng dừa xanh xen lẫn những hàng cau che bóng mát rười rượi. Anh em nhà tôi thường ra bờ dừa ngồi hóng mát mỗi buổi trưa và thường hay nô đùa cùng với đám bạn cùng xóm chơi các trò con nít.

Căn nhà Ngoại tôi ở được làm bằng gỗ dừa như: Cột, xiên, kèo, đòn tay và cả vách nhà. Đến tuổi lớn, tôi hiếu kỳ hay hỏi Ngoại đủ thứ, có lần ôm cây cột nhà  bóng nhẵn trước hiên, bên dưới cây cột có kê con tán bằng đá xanh, tôi hỏi: "Ngoại ơi! cột nhà mình làm bằng gì vậy Ngoại? Ngoại nói: Nhà mình làm bằng cây dừa, chỉ có rui làm bằng tre và lá lợp nhà là lá dừa nước". Tôi tiếp tục hỏi: "Sao làm bằng dừa mà không phải là cây khác  hả Ngoại? Nhà làm hồi nào mà cây cột này có vân trơn bóng vậy Ngoại?". Ngoại xoa đầu tôi rồi nói: "Lâu lắm rồi con ạ, từ lúc Ngoại có Mẹ con". Bây giờ nghỉ ra tôi tính nhà Ngoại lúc ấy đã có từ 38 - 40 năm.

Ngoại nói Ông, bà của Ngoại kể lại: Cây dừa nó có ở đất nầy tự hồi nào không ai biết cả, chỉ biết khi đến đây sinh sống là đã thấy có nó rồi. Ngoại còn nói đa số những ngôi nhà ở đây đều làm cột bằng cây dừa, lợp lá, nhà nằm ven các triền sông hay trên những giồng đất cao ráo. Ngoại nói khi xưa những cây dừa được trồng từ 40 - 50 năm trở lên (gọi là dừa lão) cho ít trái người ta đốn xuống lấy thân làm nhà, đóng giường ngủ, ghế đẩu để ngồi, củi đựng chén, tủ đựng thức ăn, bình đựng ấm trà hay chén - đũa -Duw muỗng ăn để ăn cơm, một số dụng cụ bếp và vật dụng khác cần thiết dùng trong nhà.

Ngày nay là thời đại văn minh tiến bộ, nhà Ngoại tuy đã khác, căn nhà trên được xây bằng gạch đẹp lắm, nhưng căn nhà dưới của Ngoại vẫn còn là căn nhà gỗ dừa, lợp lá. Tôi không hỏi Ngoại vì sao vẫn còn giữ lại căn gỗ dừa lợp lá ấy làm nhà dưới, bởi ít nhiều tôi đã hiểu được những kỷ niệm sâu xa của ngôi nhà dừa mà gia đình Ngoại đã gắn bó với nó từ buổi đầu lập nghiệp.

Phải nhìn nhận rằng cuộc sống bây giờ có nhiều phương tiện vật chất văn minh hiện đại lắm, nhưng không hiểu sao tôi vẫn thích ở trong căn nhà làm bằng gỗ dừa lợp lá. Có lẽ vì nó rất mát mẽ, nó còn là vật liệu cách nhiệt rất tốt trong mùa nắng nóng oi bức, nhất là trong giai đoạn hiện nay có nhiều sự biến đổi khí hậu .... Điều tôi thích nhất dưới căn nhà dừa của Ngoại, được nằm đu đưa trên chiếc võng, mình nhớ lại nhiều kỷ niệm, nhiều điều thú vị của tuổi thơ, để rồi nghiệm lại bản thân mình sống sao có ích cho xã hội, cho quê hương. Có lẽ vậy mà mỗi lần về lại quê nhà, cả ban ngày hay đêm tôi đều thích sinh hoạt ở căn nhà dưới, căn nhà gỗ dừa lợp lá của Ngoại tôi năm nào.
Và trong tâm thức tôi nhà gỗ dừa, lợp lá là rất nét đặc trưng hay như là một lối kiến trúc nhà miệt vườn của xứ dừa vùng sông nước Bến Tre. Tôi vẫn còn nhớ thân dừa còn làm chiếc nối đôi bờ, phục vụ nhu cầu đi lại cho người dân quê tôi, làm nên sự gắn kết tình làng, nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau.

Gỗ dừa từ 30 năm tuổi trở lên không những chỉ làm nhà ở rất bền, rất tốt, mà gỗ dừa còn được người dân quê tôi khéo léo sáng tạo ra hàng trăm loại sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hàng gia dụng rất độc đáo bán cho du khách và xuất khẩu. Ngày nay nếu nhà làm bằng gỗ dừa thì cũng sẽ rất đẹp, rất độc đáo với ý tưởng sáng tạo từ tay nghề của những người làm kiến trúc và cũng như gỗ dừa được xử lý kỹ thuật tốt, thì mối mọt không thể đục vào thân, gỗ dừa nó sẽ bền và rất bền.

Những biến tấu đầy sắc màu của dừa trên quê hương tôi hay những khả năng vô tận của nó sẽ giúp ích cho con người trong cuộc sống. Tôi có thể khẳng định như thế, vì ngay như cọng lá dừa và mo nang..., trước đây chỉ để nhóm lửa hoặc để bó chổi quét nhà, thì ngày nay cọng dừa tươi được dùng để đan giỏ hoa, lẵng hoa, giỏ tặng phẩm; mo nang bện thành các loại lồng đèn trang trí nội thất... rất là lạ hay hay. Hay ngay cả vỏ dừa cũng được chế biến thành chỉ xơ dừa. Ngày xưa đi biển không có loại dây thừng (dây luộc) nào sánh bằng dây làm từ xơ dừa rất bền. Ngày nay xơ dừa được làm thành các sản phẩm có giá trị như: Thảm chùi chân, dây thừng, nệm xơ dừa, lưới sinh thái, giỏ sách, tấm trần, ghế ô tô. Lưới xơ dừa còn dùng cho những công trình chống sạt lở bờ kè hay phủ đất trống đồi trọc; nồi xơ dừa quấn vào cây để giữ ẩm; gối ôm xơ dừa dùng để trồng cây và rau sạch....  Hay phần bụi xơ dừa (còn gọi là mụn dừa) được tước từ chỉ xơ dừa ra thì dùng làm phân bón hữu cơ; trộn hỗn hợp mụn dừa cải tạo đất; mụn dừa nay được ép thành đất sạch dùng cho công nghệ trồng rau sạch, trồng hoa kiểng và một số loại cây ăn trái.... Còn gáo dừa (hay gọi là miễng gáo) từ xưa đến nay vẫn dùng đun nấu, than của nó rất lâu tàn và dùng cho các món nướng rất ngon. Ngày nay gáo dừa dùng làm than thêu kết, than hoạt tính rất có giá trị. Gáo dừa còn là loại gỗ đặc biệt có tính sừng hóa, nên có độ bền và tính thẩm mỹ cao độc đáo. Do gáo dừa có độ cong và bề mặt cứng, nên rất phù hợp làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ có giá trị, phục vụ cho ngành trang trí nội thất đa dạng với những họa tiết hoa văn rất tự nhiên, độc đáo lạ mắt.

Đặc biệt nhất vẫn là phần cơm dừa như: Cơm dừa ép ra làm dầu dừa, rồi từ dầu dừa chế biến ra nguyên liệu làm dầu thực phẩm; xà phòng, chất tẩy rửa; nhiên liệu  sinh học; mỹ phẩm; dược phẩm; thực phẩm dinh dưỡng..., hay chế biến thức ăn chăn nuôi (gia súc, gia cầm). Cũng từ cơm dừa qua sáng tạo của con người cùng với những thiết bị chế biến ra thành thực phẩm và nguyên liệu để làm ra các món ăn như: Sữa dừa và bột sữa dừa; kem dừa; cơm dừa nạo sấy; bánh Snack dừa, kẹo dừa; phô mai dừa và yaout dừa; thạch dừa, đường dừa, rượu dừa, mứt dừa... dùng rất tốt cho sức khỏe của con người.

Sự có ích của cây dừa quê tôi còn rất nhiều, tất cả các phần của cây dừa đều có thể được sử dụng cả. Cảm ơn thiên nhiên và ai đó đã ban tặng "Cây Dừa" là món quà vĩ đại nhất cho vùng đất quê hương tôi, là một trong những loại cây tốt đẹp, là cây của cuộc sống - cây của hàng trăm - hàng ngàn công dụng.

Là người con của xứ dừa xa xứ, đang lập nghiệp trên đất khách quê người, chưa có điều kiện đóng góp nhiều quê hương nơi mình được sinh ra và lớn lên. Nhưng lúc nào tôi cũng cập nhật thông  tin về quê hương mình, nhất là về cây dừa - về giá cả của nó. Bởi vì, nó vô cùng quan trọng gần như là thu nhập chính của gia đình tôi, cũng như bao gia đình khác ở quê nhà. Tôi cũng biết sự khó khăn của nó hiện nay trên thương trường làm người dân quê tôi lao đao, lo ngại, trăn trở. Xin chia sẻ những khó khăn chung của quê hương và những ai là con của quê hướng xứ dừa Bến Tre, dù ở trong hay ngoài nước hãy cùng chung tay thông tin quảng bá về công dụng, về lợi ích của cây dừa, hay quảng bá thương hiệu các sản phẩm từ dừa vươn xa ra đến bè bạn khắp năm châu, để góp phần cùng với quê hương nâng cao giá trị toàn diện của cây dừa, để nó được phát triển một cách bền vững trên lĩnh vực kinh tế và trở thành sản phẩm văn hóa, du lịch và  môi trường.

Hy vọng sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ta, nhất là sự quan tâm tích cực của Đảng và Nhà nước Bến Tre qua các kỳ tổ chức các sự kiện về dừa, sẽ giúp cây dừa của quê hương trở thành cây chiến lược của Quốc gia, cây của cuộc sống, cây làm giàu cho quê hương.

toinguoixuduabentre 
 Xin gửi những tâm sự này đến mọi người cùng chia sẻ!

Chuyện kể "cây dừa" trong chiến tranh

Xứ ba dãy cù lao Bến Tre được bốn con sông lớn bao quanh, những con sông đã mang nặng phù sa bồi đắp, giúp cho cây trồng trên vùng đất Bến Tre luôn tốt tươi và cho trái quanh năm. Trong đó cây dừa là cây đã thích nghi, phát triển nhiều nhất thành như là “rừng dừa” trên vùng đất này. Cây dừa đã đến đây cư ngụ từ khi nào cũng chẳng ai nhớ rõ, chỉ biết cây dừa đã gắn bó thủy chung, sinh trưởng, phát triển của nó từ thuở dân ta đi khai hoang lập ấp. Chính vì vậy mà mọi người biết Bến Tre như là "quê dừa, xứ dừa, miệt dừa". Và cây dừa đã trở thành xứ sở của dừa Việt Nam, nó tạo nên bản sắc văn hóa riêng ở xứ này, trở thành biểu tượng của Bến Tre.

Kể về cây dừa trong chiến tranh, Nội và Bác Hai tôi tôi kể lại rất nhiều. Khi lớn lên tôi được biết thời kháng chiến Nhà Nội tôi nằm trong vùng giải phóng, còn gia đình nhỏ của Cha Mẹ tôi thì tạm lánh ra đô thị và Anh em tôi được sinh ra ở nơi ấy. Tôi nhớ sau giải phóng vài năm, gia đình tôi mới về sum họp với nhà của Nội, lúc đó tôi đã hơn 10 tuổi, tôi thấy đất vườn nhà Nội vẫn còn vết tích của những thân cây dừa làm hầm tránh bom đạn hay những hố đất mà Nội tôi nói đó là hầm chông. Mỗi tối trong căn nhà lá của Nội, dưới ánh đèn dầu Nội và Bác Hai tôi thường hay kể lại chuyện ngày xưa, trong đó có những chuyện nói về cây dừa của quê hương trong chiến tranh. Bác Hai tôi là người tham gia cách mạng, phải công nhận Bác tôi có chất giọng kể chuyện nghe rất bùi tai, Bác kể rất hùng hồn, tôi ngồi nghe chăm chú, say sưa và thuộc lòng luôn.

Nội nói, cũng vì sự cư ngụ thủy chung, dẻo dai, bền bỉ của nó trên quê hương mình, với hoàn cảnh thiên nhiên đặc biệt của xứ Bến Tre là "rừng dừa" cùng hệ sông rạch chằng chịt, mà mấy chú bộ đội đã sáng tạo ra những lối đánh giặc rất có hiệu quả. Bác Hai tôi nói, nếu như trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu có câu thơ "Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù" thì người dân vùng giải phóng Bến Tre có câu "Dừa che bộ đội, dừa vây quân thù". Các chú bộ đội giải phóng hành quân trong rừng dừa bạt ngạt ở xứ ba dãy cù lao này, đi đến đâu cũng được dừa cũng che chở, trên lưng mỗi chú bộ đội là một chót lá dừa làm ngụy trang.

Hay thân của dừa bắt cầu qua mương, rạch, giúp ích người dân vùng nông thôn Bến Tre đi lại dễ dàng; giúp bộ đội hành quân, chuyển thương, tải đạn rất thuận lợi. Cây cầu dừa còn là cạm bẫy đối với giặc, Nội kể khi nắm được thông tin địch sắp đi càn, mấy ông du kích dùng cưa cắt hở giữa cầu, rồi ngụy trang sao cho 1 - 2  tên địch đi ngang qua cầu gãy đôi, giặc rơi xuống hầm chông hoặc xuống mương, rạch. Thân dừa còn dùng làm công sự chiến đấu, làm nóc hầm tránh bom pháo và nhà nào trong vùng giải phóng cũng có.

Bác Hai tôi còn kể bất cứ cây dừa lão nào ở quê tôi vào thời đó trên ngọn dừa đều cũng có thể trở thành đài quan sát mà quân địch không thể ngờ tới. Mấy ông cách mạng Bến Tre thắng nhiều trận vang dội cũng nhờ leo tít lên ngọn dừa lão cao để quan sát nắm hướng địch càn quét. Từ đó mà bố trí trận địa chặn đánh địch, hay du kích địa phương Mỏ Cày còn sáng kiến lấy bốn thân cây dừa dựng lên thành cái khung hình tháp, cao ngang tầm với tháp canh đồn giặc. Rồi dùng lá dừa nước chằm lại thành nhiều cái bịch đựng đất, chất đầy xung quanh khung lên tới đỉnh và gọi đó là pháo đài. Trên chót pháo đài cũng có khoét một lỗ (gọi là lỗ châu mai), rồi các chú du kích thay phiên nhau trực theo dõi động tĩnh của giặc, để ngày đêm canh bắn tỉa chúng, khiến địch mất ăn, mất ngủ bỏ đồn mà chạy.

Nội nói mấy ông du kích, mấy ông làm biệt động của cách mạng tài tình lắm, mấy ổng chọn những vườn dừa rậm rạp, cao từ 10 - 15m trở lên, rồi dùng dây chuối làm nài, nếu nơi đó không có dây chuối thì mấy ổng dùng cái khăn rằn đang quấn cổ để làm nài trèo lên ngọn dừa, rồi dùng cái võng nằm màu xanh như lá cây căng qua hai tàu lá của hai cây dừa gần nhau, để vừa che nắng, vừa ngụy trang không lo máy bay địch phát hiện. Hay lúc ngủ trên ngọn dừa có người cẩn thận dùng khăn rằn làm dây an toàn, rồi quấn qua người với một bẹ dừa, cứ thế yên tâm ngồi ngủ. Có lúc mấy ông cách mạng ở hai, ba ngày trên ngọn dừa mà không cần tiếp tế lương thực, chỉ cần một con dao găm, họ dùng những trái dừa sẵn có trên ngọn mà ăn, uống, để chờ thời cơ mà đánh địch. Có những năm địch tung quân càn quét sâu vào vùng giải phóng giành dân, lấn đất, mấy ông cách mạng ta sáng kiến treo cờ Mặt trận giải phóng trên ngọn dừa, để phân giới tuyến vùng giải phóng, nhất là những vùng kế cận đồn bót địch đang đóng. Những lúc như thế địch cho máy bay trực thăng đi gỡ cờ, phá cờ của ta. Mấy ông du kích cách mạng cũng đâu vừa, nghĩ ra cách gắn lựu đạn hay mìn tự tạo dưới lá cờ, máy bay giặc đi gỡ cờ vướng mìn, rớt cả máy bay. Từ đó, chúng ngán mấy ông quân giải phóng của ta mà không dám lộng hành như trước nữa và chiến thuật "giành dân, lấn đất" của địch bị thất bại.

Tôi nhớ có lần Bác Hai kể: Vào năm 1972, cuối mùa mưa nước sông thường hay chảy xiết, du kích và nhân dân Giồng Trôm đã dùng 370 cây dừa lão kết bè, chờ nước ròng vừa chảy mạnh, cho cắt dây bè trôi nhanh theo dòng nước chảy, đâm thẳng vào trụ cầu và đánh sập toàn bộ cây cầu Bình Chánh xuống dòng sông để cắt đứt đường tiếp tế của quân địch. Và cầu Hòa Lộc của Mỏ Cày cũng bị quân giải phóng đánh sập bằng cách này. Với địa hình sông nước, rừng dừa, cũng như hiểu được quy luật tự nhiên lên xuống của thủy triều, cùng với sự thông minh, mưu trí của quân và dân Bến Tre đã sáng tạo ra nhiều cách đánh làm giặc kinh hồn khiếp vía. Bác Hai còn kể khi địch dùng tàu bọc sắt chở quân, tàu chiến luồn sâu vào các cửa sông để càn quét, bắn phá vùng giải phóng Bến Tre, du kích của ta đã dùng thân cây dừa vạt nhọn, rồi cắm sâu xuống vùng cửa sông, chỉ có ghe xuồng nhỏ của dân ta mới có thể len lõi qua được, còn tàu của giặc thì vô phương lọt qua.

Có nhiều lần Nội tôi tham gia vào các hoạt động của mấy ông cách mạng, Nội nói vui lắm hay lắm.  Nội kể trong vùng giải phóng lúc đầu viết khẩu hiệu tuyên truyền chống giặc bằng giấy rồi dùng hồ dán lên thân cây dừa, nhưng rồi mỗi lần giặc càn quét hay nửa đêm bọn diệt gian phản động lén xé bỏ các khẩu hiệu của ta trên thân cây dừa rất dễ dàng, hay vào mùa mưa giấy bị trôi đi hết. Để khắc phục tình trạng trên, mấy ông cách mạng lại nghĩ ra bằng cách mới là bào nhẵn trên thân cây dừa một khoảng hình chữ nhật rồi dùng sơn vẽ khẩu hiệu lên, có nơi vẽ cả cờ Mặt trận xanh đỏ sao vàng, giặc đành bó tay vì không thể nào đốn bỏ hết được cả rừng dừa của ba dãy cù lao. Bác Hai tôi nói địch còn ngán sợ hơn nữa là xung quanh gốc dừa có vẽ khẩu hiệu sợ mấy ông cách mạng gài bẫy hầm chông hay gài mìn, gài lựu đạn....

Nói về tác dụng của cây dừa quê hương, cả Nội và Bác Hai đều nói: Trong những năm kháng chiến ở nông thôn làng quê Bến Tre người dân dùng cây tre, mù u và thân dừa để làm mõ.  Thân dừa già cắt thành đoạn, mỗi đoạn khoảng 6 - 8 tấc, có đoạn dài cả thước, rồi đục miệng, móc ruột làm thành mõ, mõ dừa đánh rất kêu và kêu rất vang. Mỗi lần vào đợt vây đồn hay chuẩn bị một chiến dịch người dân Bến Tre đã dùng mõ dừa, mõ tre, mõ mù u, cả chiêng, trống hay các loại khác có phát ra âm thanh, tất cả cùng gõ lên để uy hiếp tinh thần của giặc. Còn nói về cây đuốc thì được làm bằng lá dừa khô. Ở vùng quê Bến Tre thời đó dùng đuốc quơ đi trong đêm tối, ánh sáng của đuốc sẽ tránh được chướng ngại vật…, và hình như gia đình nào cũng bó sẵn vài ba cây đuốc để trong nhà, khi cần thiết có sử dụng ngay, hay còn để giúp đỡ cho những ai lỡ đường ghé xin. Có thể nói đuốc lá dừa ngày ấy của người dân Bến Tre đã thể hiện văn hóa tình làng nghĩa xóm đã có từ bao đời nay. Cũng chính những tiếng mõ, cùng với ánh sáng của những ngọn đuốc lá dừa của người dân Bến Tre đã góp phần làm nên cuộc Đồng Khởi vang dội vào ngày 17/01/1960. Và đã để lại dấu ấn không thể nào quên trong lịch sử đấu tranh của dân tộc ta nói chung và người dân xứ dừa Bến Tre nói riêng.

Nghe Nội với Bác Hai còn kể trong kháng chiến do thuốc men thiếu thốn, mấy ông quân y cách mạng đã dùng nước dừa nạo để thay nước biển truyền dịch cho người của ta bị thương mất máu, mất nước kiệt sức. Nội nói mấy ổng chọn nước dừa dùng làm nước truyền dịch phải được chọn lọc rất kỹ, dừa trồng xa nhà, không gần chuồng trại chăn nuôi. Đặc biệt, khi trèo lên ngọn bẻ dừa phải dùng răng cắn từng trái đem xuống hoặc thòng dây thả từ từ xuống từng quả một, không được làm rơi hoặc làm đọng sốc nước trong trái dừa, nước dừa bị sốc sẽ lên cặn, nghẹt kim không truyền dịch được. Hay mấy ổng còn dùng nước dừa trộn vào thuốc kháng sinh để tiêm rất tốt. Hoặc là lấy mật ong ruồi làm tổ trong vườn dừa để sát trùng, rửa vết thương cũng tốt.

Và còn rất nhiều, rất nhiều chuyện kể về cây dừa quê tôi đã góp trong chiến đấu giành độc cho dân tộc, cho quê hương rất hay. Tôi người con của xứ dừa Bến Tre, góp nhặt một vài chuyện kể của những người thân, những người trong cuộc trực tiếp tham gia kháng chiến nói về kỳ tích của cây dừa Bến Tre. Còn trong xây dựng quê hương, cây dừa Bến Tre cũng đã góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế - xã hội của quê hương. Cây dừa quê tôi đã thật sự gắn bó mật thiết và mang nhiều lợi ích cho cuộc sống con người. Hy vọng mọi người hãy cùng hiểu thêm về nó, cùng sẻ chia với những khó khăn, thăng trầm của nó trên đất Bến Tre. Tôi nghĩ rằng dừa quê tôi bây giờ không những chỉ là tài sản riêng của người dân xứ dừa Bến Tre, mà còn là một trong những giá trị tinh thần độc đáo của dân tộc ta.

Nguoiconxuduaxaque

Thứ Tư, 8 tháng 2, 2012

Thật kỳ diệu với nước dừa tươi xứ ba dãy cù lao

 Dừa quê tôi -  xứ Bến Tre không biết có tự bao giờ và:
“Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng
Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
Như dân làng bám chặt lấy quê hương”…
                                          (Lê Anh Xuân)

Mỗi lần dẫn bạn về quê chơi, bạn tôi bảo xứ gì dừa nhiều thế. Quả thật vậy! Dừa quê tôi nhiều vô số kể, nhiều đến nổi mà mọi người biết đến quê hương tôi như là “miệt dừa”, “xứ dừa”, “rừng dừa” và hễ đi đâu đó cứ “Thấy dừa thì nhớ Bến Tre”.

Tôi được xem bài viết thông tin “Mời bạn về Bến Tre khám phá Festival Dừa lần III năm 2012” từ ngày 04 – 09/4/2012 và “Ký ức tuổi thơ với vườn dừa quê tôi” đăng trên diễn dàn dulichvietnam.com, tôi thật sự xúc động, càng nhớ về quê nhà da diết. Là người con xứ dừa tha hương cầu thực xứ người, tôi vẫn thường về thăm quê, nhưng tâm lý người con xa quê hễ bắt gặp thông tin gì về quê hương là sâu vào đọc xem người ta nói gì về quê hương mình. Bài viết “Ký ức tuổi thơ với vườn dừa quê tôi” làm tôi trải lòng lắng lại với những vần thơ của nhà thơ Lê Anh Xuân:

“Nghe vườn dừa rì rào tiếng nhạc
Lòng nao nao tôi nhớ nội xiết bao
Tuổi thơ xưa uống nước dừa dịu ngọt
Tôi biết đâu thuở chua xót ban đầu”…

Hay những câu thơ của nhà thơ Kiên Giang – Hà Huy Hà:
“Bến Tre gái đẹp, trai hiền
Dừa xanh nước bạc, cỏ miền quê hương
Ban trưa ghé quán bên đường
Uống no bóng mát mà thương xứ dừa”

Tôi vẫn nhớ rõ như in, gia đình tôi có đôi ba công đất, từ nhỏ đến khi trưởng thành, tôi thấy trồng toàn là dừa. Và nhớ nhất là cứ hễ khát nước là anh em tôi chạy ngay ra vườn, trèo tít lên ngọn dừa hay dùng câu liêm giựt cả quầy xuống, rồi dùng dao chặt tại chỗ, chẳng cần đổ ra ly hay dùng ống hút gì cả, mà cầm ngay trái dừa vừa chặt, cứ thế ngửa cổ lên uống một hơi rồi “khà ra” thật sảng khoái. Phải công nhận dừa mới bẻ xuống, chặt lấy nước nguyên chất, còn hơi ga uống nó ngọt lừ làm sao ấy. Hay có hôm đi chơi về bụng đói cồn cào, chặt ngay trái dừa xiêm chan vào tô cơm nguội, nạo cả phần cơm dừa, bỏ vào tí muối, say sưa ăn no đến cành hông luôn.
Trải qua biết bao thăng trầm,  nhiều giống dừa khác nhau vẫn còn hiện hữu, thích nghi phát triển ở vùng đất quê tôi từ vùng nước ngọt, nước lợ, đến cả vùng đất cát ven biển hay ngay cả ở những vùng đất có độ phì nhiêu kém, nhiễm phèn, đều cho sai trái. Đặc biệt, nó có sức sống mãnh liệt, minh chứng là những vết tích bom đạn trên thân cây dừa vẫn còn lưu lại với thời gian ở những cây có độ tuổi trên 40 – 50 năm nhưng vẫn còn cho trái sai oằn. Điều đó có thể khẳng định nó luôn chung thủy, sinh trưởng, phát triển tốt ở vùng đất Bến Tre và đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Và cây dừa trở thành đặc trưng của quê tôi - Bến Tre.

Hiện tại ở quê tôi,  gần nhà có một lão nông có trên 2 hécta đất trồng dừa. Thú vị nhất là mãnh đất đó đang có sự cư ngụ của khoảng 20 giống dừa. Mỗi lần về quê, tôi thường sang nhà uống trà đàm đạo, vì thế mà được biết người nông dân trồng dừa chia ra là 02 loại: “Dừa có dầu” và “dừa uống nước”. Qua tìm hiểu, tối được biết nhóm dừa có dầu có: Dừa ta (xanh, đỏ, vàng); dừa bung (xanh, vàng); dừa dâu (đỏ, vàng, xanh); dừa lai (BP121 – lai cao Tây Phi, Mã Lai). Nhóm dừa uống nước gồm: Dừa ẻo hay còn gọi là dừa xiêm lùn, dừa chùm, xiêm dây (xanh, đỏ); dừa xiêm (xanh, đỏ, vàng); dừa núm (xanh, đỏ); dừa tam quan; dừa Sri-lanca; dừa dứa (dứa xiêm, dứa thái); giống dừa sáp cũng có trồng trên đất Bến Tre, nhưng không nhiều.

Là người con của xứ ba dãy cù lao, xứ sở mà ra ngõ là gặp ngay hàng dừa, bờ dừa, vườn dừa xanh bát ngát mênh mông và hầu như nó đã có mặt trên mọi miền đất nước, vượt cả trùng dương đến bè bạn xa. Là người dân xứ dừa tôi rất tự hào về dừa quê tôi, vì nó đã góp phần chế biến đa dạng các sản phẩm trong thực phẩm, trong công nghiệp, trong thủ công mỹ nghệ, trong lịch sử - văn hóa, trong du lịch sinh thái, trong thơ ca - nhạc - hội họa, dừa trong các lễ hội…. Tính ra, dừa xứ tôi rất nhiều công dụng, ở đây tôi cùng với các bạn góp phần nói lên công dụng của nước dừa mà thôi, “ngon lắm – ngọt lắm” các bạn ạ!

Các cô, chú tham gia kháng chiến ngày xưa kể lại: Trong hai cuộc kháng chiến, do thuốc men thiếu thốn, các thầy thuốc của cách mạng đã sáng kiến dùng nước dừa nạo để thay nước biển truyền dịch cho những thương binh mất máu, mất nước kiệt sức. Nước dừa được dùng làm nước truyền dịch phải được chọn lọc rất kỹ như: Dừa trồng xa nhà, không sử dụng dừa trồng gần chuồng trại chăn nuôi. Đặc biệt, khi trèo lên ngọn bẻ dừa phải dùng răng cắn từng trái đem xuống hay thòng dây thả xuống từng quả một, không được làm rơi hoặc làm đọng sốc nước trong trái dừa, dừa bị sốc sẽ lên cặn, nghẹt kim không truyền dịch được. Nước dừa còn thay nước cất trộn vào thuốc kháng sinh để tiêm rất tốt; hay ong ruồi làm tổ trong vườn dừa, ta lấy mật đó dùng để sát trùng, rửa vết thương cũng rất tốt. Đó là công dụng của nước dừa được dùng trong những năm kháng chiến. Ngày nay y học đã có nhiều tiến bộ, thuốc men không còn khang hiếm, nên việc dùng nước dừa để thay thế nước truyền dịch hay nước cất không còn nghe nhắc đến.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu tư liệu của Đông y thì nước dừa có rất nhiều công dụng. Bởi nước dừa ngọt ấm, không độc, giúp tăng cường khí lực, tươi nhuận nhan sắc, giải nhiệt, cầm máu, nên rất tốt khi điều trị cảm nắng, thổ huyết, máu cam. Hay nước dừa kết hợp với một số cây thuốc nam khác để chữa các bệnh như: Khan tiếng, kiết lỵ cấp tính, nôn mửa, lợi tiểu giải độc, viêm thận phù nề, tẩy sán lá… Nước dừa còn chế biến thành “canh dừa” để khử độc hại của rượu hay bôi trơn các khớp. Nước dừa non trị chứng suy dinh dưỡng, bụng ỏng, đít teo cho trẻ. Nước dừa tươi kết hợp cùng với một vài vị thuốc khác để trị bệnh hoại tử ruột do bệnh thương hàn.

Nước dừa tươi từ xưa đã được xem là một loại nước bổ dưỡng, hợp vệ sinh, là loại giải khát được nhiều người ưa chuộng. Trong ẩm thực, nước dừa tươi là một trong những nguyên liệu góp phần chế biến làm phong phú các món ăn, tôi mê nhất là làm ra nước màu dừa dùng để kho thịt, kho cá; thích hơn là dùng nước dừa làm nồi thịt kho tàu thì thơm ngon, tuyệt vời, hấp dẫn vô cùng.

Hàng ngày ở đất sài thành có nhiều xe ba gác bán dừa uống nước trên đường phố, khó có thể nhận ra đâu là dừa của quê hương nữa rồi, hỏi thăm xe nào cũng bảo là dừa của xứ Bến Tre. Nhưng không sao, dừa trồng ở đâu, ở xứ nào thì người ta cũng vẫn nói là dừa Bến Tre, như vậy mình cũng thấy vinh hạnh lắm rồi. Cũng giống như mọi người mỗi khi thấy xe bán dừa uống nước trên đường phố sài thành, tôi nghĩ ngay đó là sản phẩm quê nhà. Điều đôi thích nhất là người sài thành đặt tên cho “nước dừa tươi” rất điệu nghệ “Cocktail thiên nhiên” và xếp nó vào loại thức uống sang trọng. Ngày xưa ở đất sài thành uống nước dừa người ta thường pha loãng ra rồi thêm đường, vắt miếng chanh tươi hay tắc, cho nước đá vào để uống. Uống loãng tẹt như thế mà vẫn thấy ngon vô cùng (1 trái dừa xiêm thứ thiệt có nghề pha ra cỡ 3 ly, nếu gặp phải trái dừa ta, dừa bung thì pha ra ôi thôi vô số ly).

Bây giờ, người sài thành thích uống nước dừa tươi có nhiều lựa chọn hơn xưa, sành điệu hơn, chọn dừa có thương hiệu (dừa xiêm xanh thứ thiệt, dừa xiêm dây, dừa chùm, dừa ẻo…) và uống nguyên chất. Bởi vì, được uống nước dừa tươi nguyên chất, thì  xem như thì ta uống được thứ nước giải khát vô trùng tuyệt đối, cung cấp cho ta vitamin B và các khoáng chất khác như kali, magiê…. Như vậy, uống một trái dừa tươi là ta tiếp thu được khoảng 250ml nước khoáng thực vật. Người dân sài thành còn bảo nhau muốn uống nước dừa tươi ngon, chất lượng, thì vào các siêu thị lớn mà mua không lầm. Vì dừa xiêm uống nước của Bến Tre đã nổi tiếng cả nước, cũng như làm nên thương hiệu trên đất sài thành đã lâu.

Tôi người xứ dừa, mưu sinh trên đất khách quê người, mỗi khi uống ly nước dừa thanh mát, trong tôi vẫn in đậm hình ảnh bên cạnh đồng lúa xanh mơn mởn hay chín vàng là những hàng dừa xanh thẳm cao, thấp thẳng đứng hiên ngang che bóng mát. Hay âm vang trong gió lúc vi vu, lúc rộn rã, xào xạc tiếng lá dừa khua. Nhớ nhất trong mỗi căn nhà, những buổi trưa mùa khô oi bức, những chiều mưa bong bóng ngập sân, trong tiếng võng ầu ơ, cùng với tiếng tàu dừa tấp nhẹ xuống bờ mương, bờ sông, lắng nghe văng vẳng những điệu lý, những lời hát…, ngân dài êm ả như gió trên đồng lúa mỗi buổi sớm mai, rồi được uống một trái dừa tươi thứ thiệt của quê nhà ngọt lự thiệt đã….

Những hình ảnh, âm thanh đáng yêu ấy mãi mãi là kỷ niệm không sao quên được. Tôi nghỉ không chỉ riêng tôi, mà những ai là con của quê hương cũng sẽ nhớ mãi hình ảnh và âm thanh ấy, nó sẽ luôn lắng đọng trong tâm hồn người Bến Tre từ thuở ấu thơ chập chững nơi góc sân nhà đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Cảm ơn tất cả các bạn đã có những bài viết, những cảm nhận về xứ dừa quê tôi và tôi cũng sẽ cùng với các bạn góp nhặt thêm chút kỷ niệm về nơi tôi đã sinh ra và lớn lên. Xin mượn một đoạn nhạc trong bài hát “Quê Hương” của nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ thơ của Đỗ Trung Quân để được kết thúc những cảm nhận nhớ quê của mình:
“Quê hương mỗi người chỉ một, mỗi người chỉ một mà thôi, quê hương những ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”…

toinguoixuduabentre@gmail.com
Xin gởi đến các bạn Trung tâm TTXTDL Bến Tre cùng chia sẻ!!!

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2012

Cơ sở lưu trú lý tưởng kết hợp "sân vườn"

Bài cảm nhận của bạn có mail: hoasentrang_hc@yahoo.com gởi đến Trung tâm TTXTDL Bến Tre. Trung tâm chia sẻ đến các bạn gần xa:

Lẽ thường tình, mỗi khi đi du lịch hay đến công tác tại tỉnh/thành phố, mọi người ai cũng chọn cho mình một điểm nghỉ tại khách sạn hoặc nhà nghỉ tại trung tâm để tiện việc đi lại, công tác, mua sắm, tham quan…. Vì thế, mà nhiều lần tôi đến Bến Tre và cũng được bố trí nghỉ tại khách sạn, nhà nghỉ quen thuộc như: Nhà khách Bến Tre, Khách sạn Hùng Vương, Khách sạn Hàm Luông, Khách sạn Bến Tre, Khách sạn Đồng Khởi….

Tôi đến Bến Tre thời “qua sông còn phải lụy phà”, khi ấy đi mất nhiều thời gian, ngán lắm. Bây giờ thì từ thành phố Hồ Chí Minh đến Bến Tre rất nhanh (chỉ mất khoảng 1 giờ 45). Bởi chiếc cầu Rạch Miễu đã nối đôi bờ hai tỉnh Bến Tre - Tiền Giang, Bến Tre đã hoàn toàn phá bỏ thế cách trở của vùng đất cù lao. Và thời ấy đến Bến Tre cũng không có nhiều khách sạn, nhà nghỉ để mà lựa chọn như bây giờ.
Qua sự giới thiệu của bè bạn, lần này đến Bến Tre với gia đình tôi chọn điểm nghỉ ở Khách sạn Sao Mai, số 106C - ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre. Cơ sở lưu trú này cũng dễ tìm và nằm ở vị trí khá thuận lợi, cạnh khu vực chợ phường 7 và gần với khu dân cư cao cấp Sao Mai.

Quan sát chung, tôi thấy toàn khu vực khách sạn lấy ý tưởng cảnh sân vườn là chủ yếu, nên không gian rất thoáng mát, kết hợp trang trí bên ngoài cùng màu xanh của cây cảnh rất hấp dẫn. Các vật dụng bàn, ghế đều làm bằng gỗ cao cấp, được bố trí ở những gian nhà ngoài để du khách có thể ngồi ngắm cảnh, thư giãn, trao đổi công việc…. Khung cảnh nơi đây đã thật sự tạo cho du khách sự thích thú khác lạ. Những ngày nghỉ tại đây, tôi gặp một số nhạc sĩ khá nổi tiếng của thành phố Hồ Chí Minh đang ở đây đi thực tế sáng tác. Tôi nghĩ với không gian cảnh quan thoáng mát, xanh – sạch - đẹp, yên ả thế này, thì rất lý tưởng cho giới văn nghệ sĩ cảm hứng để làm nên những tác phẩm nghệ thuật hay phục vụ cho đời.

Với tôi, đây là điểm nghỉ ngơi lý tưởng, thích nhất là bữa ăn trưa, ăn chiều rất hợp khẩu vị, ngon miệng, giá bình dân, do khách sạn phục vụ theo yêu cầu của khách. Qua tìm hiểu, Khách sạn Sao Mai hiện có 36 phòng, được trang bị đầy đủ tiện nghi và chia thành nhiều loại phòng để khách có thể lựa chọn. Mỗi phòng nghỉ phía trước hoặc phía sau đều có bố trí bàn uống trà và ghế bố để du khách thư giãn….  Ngoài ra, trong khu khách sạn còn có sân tennis, sân cầu lông để khách rèn luyện sức khỏe hay giao lưu thể thao cùng bạn bè thân hữu mỗi khi đến công tác hay nghỉ dưỡng tại đây. Và khoảng sân vườn trống có bố trí lối đi, du khách đi tản bộ xung quanh. Tại khu khách sạn này có bố trí bãi để xe và xe 50 chỗ thoải mái vào đến nơi.

Thời điểm tôi và gia đình nghỉ tại đây cũng là lúc Khách sạn Sao Mai vừa mới được nâng cấp và đang làm thủ tục đề nghị ngành chức năng công nhận 1 sao, bây giờ chắc đã được công nhận rồi. Và tôi nghĩ rằng với sự phát triển hiện nay của  Bến Tre sẽ còn nhiều cơ sở lưu trú lý tưởng hơn hoặc cỡ như Khách sạn Sao Mai.

Trong khuôn viên khách sạn có hội trường mini khoảng 100 chỗ ngồi, thích hợp để tổ chức những cuộc hội nghị vừa, nhỏ, những cuộc gặp gỡ, giao lưu…, tất cả bàn, ghế và một số trang trí khác trong hội trường chủ yếu làm bằng gỗ cao cấp nhìn rất sang trọng và cổ kính. Khu nhà hàng thiết kế theo dạng nhà sàn, vật liệu chính cũng là gỗ, được xây dựng bên hồ nước, giúp điều hòa không khí đảm bảo thực khách khi dùng bữa ở nhà hàng luôn luôn thoải mái…. Các món ăn đặc sản của vùng sông nước ĐBSCL cũng được khách sạn đưa vào thực đơn phục vụ khách như: Cá lóc nướng trui, cá rô kho tộ, mắm chưng, mắm kho, canh chua cá bông lau, cá ngát, cá hú, … và còn nhiều món hấp dẫn khác sẽ phục vụ khách.

Nghỉ tại Khách sạn Sao Mai, đêm xuống du khách có thể tản bộ theo hướng vòng xoay Hàm Luông (trên đường tránh QL 60), đây là con đường rộng, khá sang trọng, có nhiều lối kiến trúc xây dựng nhà ở hay các công trình khác rất đẹp, hai bên đường tránh có nhiều quán ăn, uống, các điểm sinh hoạt giải trí…, tạm gọi là “làng ẩm thực – giải trí”. Ở đây, có đủ các món đặc sản để du khách mặc tình khám phá và thưởng thức. Nếu du khách thả bộ theo hướng về vòng xoay Bình Phú, đến cầu Bến Tre 2, tản bộ ngắm cảnh sông Bến Tre về đêm và con đường Hùng Vương nằm bên bờ sông. Con đường này cũng được nhiều du khách chấm là con đường đẹp không thua gì các con đường ở Tp Hồ Chí Minh. Thích thú nhất là được tận hưởng không khí trong lành, thoáng mát, yên ả của vùng sông nước xứ dừa và những nụ cười thân thiện mến khách, tận tình hướng dẫn của người dân nơi đây.
Sau vài ngày nghỉ ngơi thoải mái, từ giã xứ dừa Bến Tre, trả phòng và chia tay Khách sạn Sao Mai, cũng là lúc khách sạn đang tiếp nhận đoàn khách học sinh (gồm 02 xe 50 chỗ ngồi) là con của các chuyên gia nước ngoài đến làm việc tại Tp Hồ Chí Minh đến tham quan tại Bến Tre. Bắt gặp được điều đó, cũng có thể khẳng định sự tin cậy, an toàn, lý tưởng của điểm nghỉ kết hợp với sân vườn ở đây. Hy vọng Khách sạn “Sân vườn Sao Mai” tại thành phố Bến Tre sẽ ngày càng thu hút nhiều khách và phục vụ ngày càng chuyên nghiệp hơn.